Hạnh Thánh Gioan Vianney - Phần 5 Chương 1 - Dáng Điệu Lịch Sự Hòa Nhã và Lòng Nhân Từ của Cha Gioan
Cha Gioan là người nhỏ bé, mảnh khảnh và lanh lẹ. Tóc cha dày và dài, trán nhô ra, đôi mắt tinh tường, sắc bén, như thấu suốt linh hồn người ta. Sống mũi cha cao nhưng gãy ở giữa, đôi gò má nhô cao làm tăng thêm vẻ khắc khổ cho thần hình gầy đét.
Đức tin là nền tảng, là nguồn gốc các nhân đức khác. Người nào mạnh tin thì trông cậy vào Chúa, và tuân giữ các điều răn cách trọn hảo. Ai càng mạnh tin bao nhiêu lại càng trông cậy vững vàng, yêu mến thiết tha và tuân giữ các điều răn nghiêm nhặt hơn bấy nhiêu.
Lề luật và giới răn của Chúa tóm lại trong hai điều này: Một là kính mến Người trên hết mọi sự, hai là thương yêu người khác như chính mình. Cha Gioan đã yêu mến Chúa trên hết mọi sự nên cha cũng thương yêu hết mọi người, dù là người xấu nết hay tội lỗi ngỗ nghịch.
Có ba nhân đức làm cha Gioan nổi tiếng khắp thiên hạ và nên thánh thiện trước mặt Thiên Chúa là: khiêm nhường, khó nghèo và hãm mình, bằng lòng chịu cực khổ. Những đoạn trước đây đã có nói đến các điều này, ở đây xin bổ túc thêm một ít điều nữa.
Trong những tính mê mà ông Adong đã lưu truyền lại cho con cái loài người, có ba tính nặng nhất, đó là mê đắm xác thịt, tham lam của cải và kiêu ngạo. Ma quỷ dùng ba tính mê ấy như đầy tớ để cám dỗ và xúi giục chúng ta phạm tội. Người nào muốn được cứu rỗi, muốn nên thánh phải hãm mình và từ bỏ ba tính mê ấy thì mới theo Chúa Giêsu được. Sự chống trả và hãm dẹp ba tính mê ấy gọi là hãm mình.
Trước đây chúng ta đã có đề cập đến việc cha Gioan được biết và xem thấy mọi sự trong linh hồn người ta. Khi gặp một người nào, cha biết được tâm hồn của người đó, thanh sạch hay tội lỗi. Ngoài ơn ấy, Thiên Chúa còn ban cho cha biết nhiều điều bí ẩn khác, loài người không thể biết
Từ đầu năm 1859, cha Gioan ngày càng kiệt sức và mệt nhọc hơn. Giọng nói cha thều thào, phải lắng tai mới nghe được. Thân hình cha tiều tụy gầy guộc hẳn đi. Chỉ còn đôi mắt tinh tường và ngời sáng, tất cả sự sống của cha hầu như tập trung nơi đôi mắt ấy. Ai nhìn thấy cha đều thương mến, nhưng vì người ta quen thấy cha yếu đuối gầy gò như thế, nên không ai nghĩ rằng cha đã gần chết.
Đó là một chương mang ý-nghĩa Kinh thánh trong phần đầu của tông-thư. Ý-niệm “thời-gian viên-mãn” lấy từ thánh Phaolô. Tư-tưởng cho rằng đây là “thời kết-thúc”, màn kết của lịch-sử, được viết rõ trong Kinh-thánh. Tuy nhiên phúc-âm Lu-ca, với tầm nhìn xa khác thường, nới rộng điểm kết-thúc qua câu: “Giê-ru-sa-lem sẽ bị nhiều dân-tộc dày-xéo tới khi thời-gian của họ viên-mãn” (Lc,24, 24).
Tôi tin rằng đương-kim Giáo-chủ sẽ còn ra nhiều thông-điệp. Tôi nghĩ ngài đang trăn-trở rất nhiều về chuyện hợp-nhất Ki-tô giáo và đối-thoại liên tôn. Rồi còn các vấn-đề đạo-đức xã-hội và chính-trị. Và trên hết, lãnh-vực then-chốt chính là Tin-mừng; phải liên-tục rao-truyền Tin-mừng, nhưng Tin mừng dễ bị lu-mờ, nếu người ta chỉ chạy theo thị-hiếu quần-chúng.
Chính nhờ Ki-tô giáo mà ý-tưởng tách rời nhà-nước và Giáo-hội nảy sinh. Trước đó hai thực-thể này hoà lẫn vào nhau. Mọi nền văn-hóa cổ đều quan-niệm nhà-nước mang bản-chất thần-thánh và là giám-hộ đích-thực và tối-cao của thế-giới thần-linh. Lịch-sử tiền Ki-tô giáo thời Cựu-ước cũng thế. Ở Do-thái thoạt đầu hai thực-thể đó nhập thành một. Mãi tới khi đức tin của Do-thái bộc-phát ra từ lòng dân để trở thành đức tin của muôn dân, lúc đó đức tin mới thoát khỏi sự đồng-hóa với chính trị và trở thành yếu-tố đứng trên những chia-cách và dị-biệt chính-trị.