ChucMungNamMoi

 Nhân dịp Xuân Nhâm DầnBBT trang nhà Khơi-Nguồn 

xin kính chúc quý đọc giả và toàn thể gia đình

một năm mới thánh thiện
sức khỏe dồi dào, gia đình hạnh phúc 
và tràn đầy Hồng ân Thiên Chúa.

Đức Mẹ

PHÉP LẠ MỄDU NGƯỜI MÙ ĐƯỢC THẤY

BUỔI NÓI CHUYỆN CỦA CHA JOZO ZOVKO Ở CHICAGO

Larry and Mary Sue Eck

 
    Bao năm qua chúng tôi đã được nghe cha Jozo nói chuyện nhiều lần, ngay tại Mỹ và ở Mễdu.  Đối với chúng tôi đây là lần đầu tiên được nghe ngài nói chuyện về các thị nhân trong những ngày đầu khi biến cố hiển linh xảy ra với một giọng đầy trìu mến đối với họ.  Câu chuyện ngài kể lại đã khiến nhiều người phải rơi lệ. 
 
    Những ngày đầu khi biến cố xảy ra ở Mễdu, ngài đã không tin các thị nhân được thấy Đức Mẹ.  Người đầu tiên ngài tiếp xúc là Mirjana, ngài cho rằng Mirjana là người lớn nhất và  thông minh nhất trong đám.  Ngài hỏi Mirjana: 
 
    “Con sống ở Sarajevo?” 
    “Dạ vâng.” 
    “Con có đi dự lễ thường không?” 
    “Dạ, mỗi Chúa Nhật.” 
    “Con có cầu nguyện mỗi ngày trong gia đình không?” 
    “Vâng, mỗi ngày.” 
    “Con có dự giáo lý thường không?” 
    “Thưa có.” 
    “Như vậy hãy nói cho cha biết những gì đã xảy ra cho con?” 
 
    “Và rồi Mirjana kể lại biến cố đó, cô tuôn ra như thác nước Niagara vậy.  Cha bắt đầu cười.  Tất cả mọi người trong hội trường đều cười theo.  Ngài nói:  “Chúa ơi, vậy là như thế nào đây?”  Ngài tiếp tục giải thích cách ngài nói chuyện với từng thị nhân một.  Lối nói làm cho chúng tôi có cảm tưởng chính mình đang hiện diện trong ngôi nhà xứ đó với ngài, đang nhìn từng thị nhân một trong khi ngài nói chuyện với họ.  Ngài kể, họ đem vô một cô bé chân trần, dáng người nhỏ bé, đơn thuần, lặng lẽ, tên Maria.  Cô nói chuyện với tôi trong sự kính cẩn, nhưng vẫn còn ấn tượng sâu sắc về những gì đã xảy ra trong biến cố hiển linh vừa qua.” (Maria là người được Đức Mẹ chọn để ban sứ điệp cho thế giới vào ngày 25 mỗi tháng.) 
 
    Ngài tiếp: “Thị nhân Ivanka đã gây cho tôi một sự đau đớn lớn lao bởi vì khoảng tháng rưỡi trước khi Đức Mẹ hiện ra, tôi đã phải đưa đám tang mẹ của cô. ‘Một người mẹ thật đẹp, thật trẻ, thật thánh thiện’.  Cái chết của bà ta thật ngoài sự tưởng tượng của mọi người, điều này đã làm cho Ivanka đau đớn khôn cùng.”  Ngài giải thích nguyên nhân cái chết của mẹ cô, và sự đau buồn này đã gây ảnh hưởng không ít cho cả dân làng Mễdu: 
 
    “Thời gian đó là tháng Năm, bà ta bước vô vườn cây ăn trái đang trổ hoa, và vườn nho cũng đang rộ bông.  Phấn hoa là nguyên nhân gây ra bịnh dị ứng và ảnh hưởng đến trái tim của bà.  Bà vô nhà thương nhưng họ không cứu nổi và bà đã qua đời.” 
 
    “Tôi làm đám tang cho bà.  Tất cả mọi người chúng tôi, chồng bà, con cái bà đều khóc.  Ai cũng đau khổ và bàng hoàng trước cái chết bất ngờ này.  Trước khi chúc lành lần cuối tất cả đều đứng trước cái huyệt trống mở toang để nhà đòn hạ hòm xuống. Ivanka nhẩy xuống huyệt vì không muốn rời xa người mẹ hiền.  Một người đàn ông phải níu cô lại để cô không bị rơi xuống.  Đó là nỗi đau cho tất cả chúng tôi.  Sau đó họ đã rời khỏi nơi đó không một lời để lại.” 
 
    “Vài tuần sau, mọi người đều nói cho tôi biết, Ivanka là người đầu tiên được thấy Đức Mẹ.  Tôi nghĩ rằng, trong niềm đau tận cùng đó Ivanka cứ tưởng là được thấy mẹ mình.” 
 
    Tôi hỏi Ivanka:  
 
    “Con có hỏi Đức Mẹ xem mẹ con đang ở đâu không?” 
    “Đức Mẹ nói biết. Con cũng xin Đức Mẹ chỉ cho con thấy.” 
    “Đức Mẹ có cho con thấy không?” 
    “Không, nhưng Mẹ nói Mẹ sẽ làm.” 
    “Con có khỏe không?” 
    “Dạ khỏe…” 
 
    “Chuyện sai lầm của tôi là đã không tin các em ngay từ lúc đầu.  Tôi nói chuyện với các em mỗi ngày, và mỗi ngày mỗi nhiều hơn khi thiên hạ tới ngôi làng Mễdu.” 
 
    Ngài kể lại về một phép lạ xảy ra ở những ngày đầu cuộc hiển linh:  “Trong làng có một người đàn ông bị mù.  Ông ta trùng tên với tôi.  Ông là một người lớn tuổi rồi.  Ông không những mù mà còn đau đớn thật nhiều vì tất cả cánh tay, bàn tay của ông đều mưng mủ.  Ông phải lấy bao nylon để che lại những nơi đó.  Người đàn ông này khác tôi, ông ta không có nghi ngờ về cuộc hiển linh, ông  không mảy may nghi ngờ.  Ông là người hạnh phúc nhất trong ngôi làng ấy.  Ông cám tạ Chúa:  “Lạy Chúa, cám ơn Chúa đã gửi Mẹ Maria xuống cho chúng con.”   “Các con, hãy đem  một cái gì đó ở đồi hiển linh về cho ta.”  Và chúng đã đem về cho ông ít đá nhỏ và nắm đất.  Cả đêm, ông cầm những thứ đó trong tay cầu nguyện.” 
 
    “Sáng dậy ông đọc Kính Tin Kính.  Ông bỏ đá và đất vô một cái chậu nước mà vợ ông đem vô để rửa cho ông.  Chậu nước trở thành bùn.  Bà vợ nói:  “Nước dơ rồi, ông chờ đó để tôi thay nước khác cho ông.”  Nhưng ông nói:  “Không, không, đây là thuốc của tôi.”  Bà  vợ la lên:  “Ồ Chúa ơi, hãy giúp chúng con, làm sao có thể như thế được?  Ông nói:  “Phải, tôi phải rửa bằng nước bùn này.”  Và ông đã rửa mặt, rửa người ông bằng nước bùn đất đó.” 
 
    “Ngay sau đó, ông nói với vợ:  ‘Tôi có thể thấy được rồi.’  Bà vợ không tin.  Ông thuyết phục bà nhưng bà cũng không tin.  Ông nhìn xuống cánh tay, bàn tay mình.  Ông nói:  “Ồ những vết thương trên tay tôi đâu hết rồi?”  Khi bà vợ nhìn xuống cánh tay, bàn tay và thân người ông thì những vết thương đầy mủ đó không còn nữa.  Bà chạy ra ngoài nói cho mọi người biết:  “Chồng tôi đã khỏi rồi.  Đức Mẹ đã chữa lành nhà tôi.”  Mọi người quá sức vui mừng, chạy xung quanh cầu nguyện và tạ ơn Chúa, rồi hôn ông ta.  Đức Giám Mục sở tại tới với các linh mục, tất cả đều vui mừng.  Báo chí tới, họ chụp hình ông ta, diễn tả lại tình trạng mù lòa bịnh tật của ông.  Nhưng những nhà phóng viên và báo chí đó tất cả đều là cộng sản.  Họ không cho tung tin ra ngoài.  Cảnh sát sửng sốt trước tin tức này.  Những nhà báo chí cộng sản vô hình chung đã được dùng cho sự cổ động tuyên truyền đức tin.  Chính quyền bắt đầu ngược đãi các nhà báo chí và họ viết những bài chống lại những người có liên quan tới vụ này.  Cảnh sát tới nói với ông mù rằng:  “Ông không được nói cho ai biết là ông bị bịnh.  Ông phải nói với mọi người là ông luôn luôn khỏe mạnh.  Nếu không thì chúng tôi sẽ bỏ ông vô tù.” 
 
    “Ông mù nghĩ:  ‘Nếu tôi từ chối phép lạ.  Nếu tôi từ chối ơn Chúa ban cho tôi, thì Chúa sẽ phạt tôi?  Không, tôi sẽ không làm chuyện đó, thà rằng tôi vô tù còn hơn là chối bỏ sự thật.” 
 
    “Viên cảnh sát rời nhà ông và đi tới nhà các thị nhân nói với cha mẹ các em:  “Nếu con của các người nói thấy Đức Mẹ, các người cũng sẽ bị vô tù với chúng nó.”  Họ lấy đi những giấy thông hành của cha mẹ các em để họ không thể rời khỏi xứ sở.  Cái đó có nghĩa rằng, họ cũng sẽ không còn cơm trên bàn ăn nữa (cha các em đều đi làm ở bên Đức).  Các em không thể đi học được.  Cha mẹ các em buồn bã, nhưng các em không ngần ngại nói:  “Chúng con không thể câm lặng.  Đức Mẹ nói, chúng con rất quan trọng, như vậy chúng con không thể câm lặng, chúng con cần làm những chứng nhân của Người.”  Sau dó, các em được đem đi khám nghiệm và bị đe dọa đủ điều. 
 
    Đa số khán thính giả đã được nghe hoặc đọc sách nhiều lần về câu chuyện này, nhưng khi nghe chính cha Jozo kể lại ai cũng phải nín thở và hồi hộp.  
 
    Ngài kêu gọi mọi người sống sứ điệp của Mẹ và lần chuỗi Mân Côi.  Hoán cải trở về với Chúa.  Ăn chay và cầu nguyện. 
 
    Khi tới phiên người nào đó lên nói chuyện thì ngài ngồi cúi đầu về phía tượng ảnh Đức Mẹ, giống như là đang trong tư thế cầu nguyện cho chúng tôi.  Nhiều lần ngài đi tới tượng của Mẹ, vòng tay ôm lấy Mẹ.  Không những ngài làm phép cho tượng ảnh với tư cách của một linh mục mà còn với cả tâm tình yêu thương và sùng kính của ngài. 
 
    Số tiền thu được trong buổi hội nghị đó, kể cả tiền dâng cúng là gần $30.000, chúng tôi dành hết cho viện trẻ mồ côi, tàn tật của ngài. 
 
    Međjugorje Magazine 
    Thuận Hà