BBT trang nhà Khơi-Nguồn

xin kính chúc quý đọc giả

một mùa Giáng Sinh An Lành

trong Chúa Hài Đồng Giêsu

một Năm Mới An Khang Thịnh Vượng

Bà Là Ai?

BÀ LÀ AI ?

CHỨNG TỪ TRUNG THỰC VÀ ĐẦY XÚC ĐỘNG
CỦA MỘT KÝ GIẢ TIN LÀNH VỀ ĐỨC MẸ

Chuyển ngữ từ cuốn “MEDJUGORJE, THE MESSAGE” của Wayne Weible
Paraclete Press, Orleans, Massachussets, 22nd Printing, 1996.

[BBTMạng lưới Khơi Nguồn (Khoi-Nguon.com) xin chân thành cám ơn Linh mục Phêrô Hoàng Minh Tuấn, CSsR đã dịch ra tiếng Việt và cho phép chúng con được đăng lên mạng cho mọi người được hưởng ân huệ của Chúa. Xin Chúa trả công bội hậu cho cha.


“Muốn được hạnh phúc, hãy sống đơn sơ, khiêm tốn và để cho Thiên Chúa hướng dẫn...”

    Chương 8

    CHA SCOTTI

    Sáng thứ tư, tôi không ở văn phòng để nghe điện thoại. Tôi đang trên đường đi tới thị trấn Lake City, cách xa khoảng 100 cây số, để thăm Cha Sylvester Scotti. 
 
    Sau khi bài xã luận thứ hai được đăng, ông đã gọi lại hỏi bao giờ tôi tạt qua thăm ông. Vì đã dự định sẽ kết thúc loạt bốn bài viết về Mễ Du bằng những cuộc phỏng vấn người dân sống tại đây đã đi hành hương đến Mễ Du, nên tôi cũng muốn lấy luôn câu chuyện của ông vào đấy. Mặt khác, tôi cũng tò mò muốn gặp ông linh mục người Ý “không đến nỗi khùng” này. 
 
    Vì không quen đường, tôi hơi khó tìm nhà ông. Đúng ra, nhà của ông đã tìm ra tôi: tôi lái xe quanh quẩn các đường gần đó, cố tìm số nhà mà tôi đã ghi qua điện thoại. Bỗng tôi ngước nhìn, và thấy căn nhà ở ngay đấy. 
 
    Khi tôi bước lên các bậc thềm, cánh cửa đột nhiên mở ra: một người đàn ông cao lớn, mập mạp, tuổi trên 50, đeo kính cận, đầu tóc bù xù, tươi cười rạng rỡ bước ra đón tôi. Ông mặc một áo sơ mi cũ với quần tây và đôi giày bạc màu - y hệt như tôi đã mường tượng, căn cứ theo cuộc nói chuyện giữa hai chúng tôi qua điện thoại. 
 
    Khi vừa tới cửa, ông tóm lấy tôi, ôm chặt tôi trong cánh tay, như thể chúng tôi đã quen biết nhau nhiều năm, rồi nói: “Tôi đã cắm điện bình cà phê, bây giờ mình nói chuyện.” Và chúng tôi bắt đầu. 
 
    Tôi biết được cha Scotti là mục tử của hai Nhà thờ truyền giáo nhỏ ở vùng Kingstree và Lake City. “Đó là miền băng giá Siberia của địa phận này”, ông giải thích, tay cầm bình cà phê rót thêm cho tôi, “nhưng không sao cả. Ở đây, tôi có nhiều thời giờ hơn để cầu nguyện. Tôi nghĩ là tôi được phái đến đây, vì họ không biết làm gì hơn với tôi. Họ nghĩ là tôi hơi lập dị, không giống ai.” 
 
    Phần tôi, tôi đã sớm khám phá ra điều không giống ai ấy. Trước đó, ông đã nói với tôi: cuộc hành hương của ông đến Mễ Du có ý nghĩa chừng nào đối với ông. Giờ đây, tôi bắt đầu ghi âm và đặt câu hỏi. Thời gian trôi qua như tên bay và phải thay đến cuốn băng thứ hai. Bất ngờ, tôi nhận ra mình đã qua hơn ba tiếng đồng hồ đàm đạo không ngừng ở đó. 
 
    Khi tôi vừa bắt đầu cho ông biết tôi đã nghe nói về Mễ Du như thế nào, ông bỗng giơ tay ngăn tôi lại. Rồi nhìn chằm chằm vào tôi, ông khởi phát nói tiếng lạ. Nhờ biết chút ít về đặc sủng canh tân của Chúa Thánh Linh và phong trào ân sủng, nên tôi hiểu được hiện tượng đang xảy ra. Dù không hiểu ông đang nói gì, nhưng tôi không cảm thấy hoảng hốt hoặc lo sợ chút nào bởi điều đó, duy chỉ thấy không thoải mái thôi. Ông không nói lớn tiếng, nhưng nói với giọng nhỏ nhẹ và du dương. 
 
    Trong tôi lúc bấy giờ, một phần thì tự hỏi: “Mình đang dẫn xác vào cái trò gì đây?”, nhưng phần khác lại hài lòng, vì chỉ có việc nghe và chờ đợi. Sau vài phút, ông ngưng lại và chúng tôi nhìn nhau. 
 
    - “Hi vọng tôi không làm anh khó chịu chứ?” 
 
    - “Không đâu!” tôi trấn an, “Có ngạc nhiên một chút, nhưng không phiền.” 
 
    - “Tốt, bởi vì đây là một sứ điệp của Đức Maria gởi cho anh. Người nói: Anh là con của Người, và Người yêu cầu anh viết về việc này. Nhưng còn hơn thế nữa: ấy là đem cả cuộc đời vào công việc ấy, hoàn toàn tận hiến bản thân anh cho việc truyền bá sứ điệp Mễ Du.” 
 
    Ông dừng lại. Miệng tôi bấy giờ há hốc, mắt mở to. Thế rồi, miệng ấp úng không tìm ra lời, tôi kể cho ông về sứ điệp tôi đã nhận được từ lúc đầu, sứ điệp ấy hầu như đang được sứ điệp của ông chứng thực từng lời. Nói tới đó, tôi cảm thấy tóc trên đầu như dựng đứng lên, và tôi bắt đầu hoảng sợ. 
 
    Được khích lệ, cha Scotti nói tiếp: “Theo tôi hiểu, với thông điệp này, anh sẽ đi xa hơn Nam Carolina, hoặc ngay cả ra khỏi xứ này nữa vì việc đó. Anh cũng sẽ dính dáng tới ngành truyền thông.” 
 
    - “Thôi mà cha!” tôi ngắt lời ông, “Tôi là chủ một tờ báo tỉnh lẻ, tôi viết vài mục xã luận vì “cái tôi” của mình hơn là vì bất cứ chuyện gì khác. Tôi không quan tâm đến ngành truyền hình hay phát thanh.” 
 
    - “Này”, ông cười ha hả, cái cười rang rảng đặc biệt Ý của ông, “Tôi chỉ lặp lại điều mà tôi nghĩ là chính Đức Mẹ nói với anh!” Rồi ông nói với giọng thông cảm: “Tôi biết như vậy là quá nhiều cho anh, nhưng cứ tiếp tục cầu nguyện và mở lòng ra đón nhận điều đang đòi hỏi nơi anh và đừng quá lo lắng.” 
 
    Làm sao mà tôi không lo được? 
 
    Tất cả những cái này vượt xa trí tưởng tượng của tôi. Chỉ vài tuần trước đây thôi, tôi còn khó lòng mà nhớ và nhắc đến tên “Giêsu” bên ngoài Nhà thờ. Thế mà bây giờ, tôi lại nghe một người lạ đang bảo cho tôi mọi thứ về thông điệp mà tôi đã lãnh được. 
 
    Tôi nhìn đồng hồ, đã hơn bốn giờ. Tôi nói: “Trễ rồi, tôi phải đi. Chúng ta có thể gặp nhau lại sau vài tuần nữa được không?” 
 
    - “Dĩ nhiên”, ông cười nhe cả răng và tiễn tôi ra cửa. 
 
    Tôi mỉm cười chào tạm biệt: “Cha biết đấy, tôi chưa bao giờ gặp người nói tiếng lạ. Có điều kỳ lạ là việc đó không làm tôi khó chịu. Tôi muốn nói với tư cách là một tín đồ Tin Lành và một nhà báo, tôi thấy cái đó..., à..., không làm cho tôi bực bội chút nào. Nhưng tôi không được chắc lắm về thông điệp của cha...” 
 
    Ông chỉ mỉm cười nói: “Rồi anh sẽ thấy.” 
 
    Khi về đến phòng thì đã trễ, nhưng tôi vẫn ngồi ngay xuống máy đánh chữ. Tôi muốn ghi lên giấy tất cả những gì cha Scotti đã kể khi nó còn nóng hổi. Cắm cúi làm việc khoảng một tiếng rưỡi, khi đã xong, tôi liền nghĩ nếu tôi gặp được Jim Stoffel vào buổi sáng, thì nội trong ngày mai, bài báo có thể xong. Điều này khá quan trọng, vì chúng tôi còn phải đi Charleston, miền tây Virginia, để mừng lễ Giáng Sinh cùng với gia đình Terri. Chọn Jim như một nhân vật thứ hai ở địa phương này để phỏng vấn, quả là một chọn lựa hợp lý, vì anh đã từng đến Mễ Du. 
 
    Qua chuyến đi ấy, Jim và vợ là Rosie đã được tác động mạnh mẽ, người ta thấy rõ điều đó trong bài nói chuyện của anh. Vả lại, cặp vợ chồng này có đôi nét đặc biệt, khiến Terri và tôi thấy thích họ ngay, và đã hẹn với họ sẽ gặp nhau lại sau này. Cộng chung với nhau, hai cuộc phỏng vấn này sẽ thành một kết thúc tốt đẹp cho loạt bài của tôi. 
 
    Miệng ngáp dài, tôi tắt đèn và rảo bước về nhà. Nhưng sáng hôm sau, thức dậy với cơn nhức đầu và buồn nôn, tôi chắc chắn cuối cùng mình không thể tránh khỏi bệnh cúm. Trước đó hai tuần, nó tấn công Terri nhưng bỏ sót tôi - hay là do tôi tưởng như vậy. Lần này, chắc không còn may mắn như thế. Và bây giờ, tôi chỉ còn cách gác lại bài báo cuối đến sau lễ Giáng Sinh, vì tôi tuyệt đối không thể phỏng vấn Jim và viết bài tường thuật trong tình trạng này. 
 
    Tôi tạm bình phục vào lúc đi miền tây Virginia, để không làm hỏng cuộc mừng lễ Giáng Sinh của mọi người. Thực tế, đối với tôi, đó là một lễ Giáng Sinh tuyệt vời chưa từng thấy, cũng nhờ có Mễ Du. Đây là lần đầu tiên, tôi cảm nghiệm mạnh mẽ ân huệ bao la của Thiên Chúa, khi ban Con của Người. Và cũng chính Đức Maria ấy, Đấng đã chấp nhận chức làm Mẹ Chúa chúng ta cách vô điều kiện, bây giờ lại xin tôi tham gia tích cực vào việc làm cho nhiều người khác nhận thức đầy đủ về ân huệ đó. Tôi không thể nghĩ đến điều này mà không rơi lệ. 
 
    Tôi được ban một ơn đặc biệt khác trước đó ít lâu. Một buổi tối nọ, khi Terri đang vật lộn với bệnh cúm, và tôi phải chùi sàn bếp thay nàng, chuông điện thoại reo. Tôi nhón chân băng ngang qua cái sàn còn ướt để trả lời. Đó là George McMath., Chủ tịch Atlantic Publications, một tập đoàn xuất bản của một hệ thống gồm 29 tờ tuần báo và các loại ấn phẩm khác. Trong đó có một tờ đặt tòa soạn tại Myrtle Beach. Chúng tôi tán gẫu ít phút, rồi ông ta đi thẳng vào mục đích của cú điện thoại lúc đêm hôm này. Đó là: chúng tôi có tính bán lại bốn tờ báo của chúng tôi không? 
 
    Quả là một cú sốc! Từ hơn hai năm nay, chúng tôi cố tìm mối để bán chúng đi. Sau chín năm đương đầu với đủ thứ vấn đề: hạn chót phải trả tiền, vấn đề nhân viên, khủng hoảng tài chánh..., cả hai chúng tôi đã bị căng thẳng quá sức. Terri mong muốn được ở nhà chăm sóc con cái; tôi thì muốn hành nghề tự do, như tư vấn quảng cáo chẳng hạn; như thế, ít nhất còn có chút thời gian chơi golf và tennis. Nhưng tìm mãi vẫn không ra người mua với điều kiện hợp lý. Cho đến hôm nay... 
 
    Ngay đó, tôi liền nhớ lại lời Đức Trinh Nữ Diễm Phúc đã nói với tôi trước đây: 
 
    “Không bao lâu nữa, con sẽ thôi công việc này.” 
 
    Tôi cố giữ bình tĩnh khi chúng tôi phác thảo kế hoạch chuyển giao. Có vẻ như ngày bàn giao hợp lẽ nhất là ngày 1 tháng 4, kỷ niệm năm thứ chín ngày khai trương tờ báo đầu tiên của chúng tôi. 
 
    Tôi đặt ống nghe và lặng lẽ đi vào phòng riêng. “Terri ơi! Chúng ta vừa bán đi mấy tờ báo rồi!” tôi thầm thì vào tai nàng với nụ cười ngơ ngáo. “Sứ điệp, nó đang trở thành sự thực.” 
 
    Nàng nhìn tôi, có vẻ không biết nên cười hay nên khóc! Một hồi lâu, nàng nói: “Tốt thôi! Nếu thật như vậy thì tuyệt quá! Nhưng em chỉ tin khi chúng ta ký giấy tờ thôi.” 
 
    Tôi thầm nghĩ: “Đúng vậy”, đang khi nhìn quang cảnh miền tây Virginia lướt nhanh ngoài xe. Chỉ với việc này thôi, Giáng Sinh năm nay đã thành một Giáng Sinh đặc biệt rồi.  
    Chúng tôi đến nhà mẹ của Terri đúng lúc để giúp bầy hang đá máng cỏ tại phòng khách. Đó là một hang đá máng cỏ đã có từ lâu trong gia đình. Chuồng bò lừa được làm rất chắc chắn, chứ không mong manh hay kiểu cọ như một số loại máng cỏ thời nay. Bộ tượng bằng gốm sứ, chứ không phải bằng thạch cao. Bất ngờ, khi tôi đặt tượng Đức Maria quỳ cạnh bên máng cỏ, mắt tôi bỗng nhòa lệ: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, tôi vừa thầm thĩ cầu nguyện, vừa đặt tượng Người lên đám cỏ rơm. 
 
    Chúng tôi trở về Myrtle Beach vài ngày trước Tết Dương lịch, vừa đúng lúc tôi bị vật ngã trở lại vì bệnh cúm. Sau lần bình phục thứ hai, tôi đến gặp Jim Sotffel, phỏng vấn anh và viết bài tường thuật cuối cùng về các biến cố Mễ Du. 
 

    * * *

    Ngày 15-1-1986

    Phần 4: Phỏng vấn dân địa phương đã từng đến Mễ Du

 
    Tôi thành thật xin lỗi tất cả các bạn đọc, vì đã không có bài xã luận trong số báo tuần qua. Tôi không may bị con vi trùng cúm đánh nằm gục suốt cả tuần. Đây là phần cuối của một loạt bốn bài, bắt đầu từ tuần lễ thứ nhất tháng 12. Đó là những lời chứng của hai cư dân đang sống trong miền này. Họ đã đến Mễ Du, đã tận mắt chứng kiến những biến cố đang xảy ra ở đấy. 
 
    Để được ngắn gọn và dễ đọc, lần này, tôi đã chọn hình thức tường thuật hơn là câu hỏi đáp của phỏng vấn. Những người được phỏng vấn là anh Jim Stoffel, ngụ tại Bắc Myrtle Beach và linh mục Sylvester Scotti, mục tử Nhà thờ Công giáo Thánh Philip tại Lake City. 
 
    Jim Stoffel là vận động viên nhà nghề môn đánh gôn của câu lạc bộ Carolina Shores Golf tại Bắc Myrtle Beach. Anh và vợ là Rosie, đã sống ở đây từ năm 1972. Họ đã cùng với Hal và Peggy Todd, cũng ngụ tại Bắc Myrtle Beach, đến Mễ Du vào tháng 11 năm 1985. Tôi sử dụng những lời chứng mà Jim trình bày trong một cuộc nói chuyện ở Nhà thờ của anh..., sau khi anh từ Mễ Du trở về. Một lần nữa, vì khuôn khổ bài báo có giới hạn, tôi chỉ trích ra những lời làm chứng của Jim, mặc dù những người khác trong nhóm cũng có nhiều chuyện muốn nói về chuyến đi. Có lẽ tôi có thể đề cập đến các điều ấy nhiều hơn sau này. 
 
    Cha Scotti làm cha xứ Nhà thờ Thánh Philip từ hai năm rưỡi nay. Cha chịu chức linh mục đã 14 năm. Tôi đến Lake City và ngồi nói chuyện hết một buổi sáng với ông về những kinh nghiệm của ông tại Mễ Du. 
 
    Chúng tôi sẽ bắt đầu với … 
 
    Những lời trần thuật của Jim Stoffel: 
 
    “Cách đây hai năm, chúng tôi đã nghe nói về các biến cố tại Mễ Du qua một người bạn. Anh ấy được nghe về chuyện đó tại Greenville, miền Nam Carolina. Tự nhiên, chúng tôi thấy quan tâm và bắt đầu tìm hiểu. Chúng tôi kiếm được vài cuốn sách - hồi đó đã ra được khoảng sáu cuốn. 
 
    “Tôi đã từng đọc chuyện Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức và Fatima. Nhưng điều đáng nói nhất ở đây là biến cố Mễ Du đang xảy ra hiện nay, ngay lúc này, trong thời đại chúng ta. Chúng tôi thu thập những thông tin cần thiết về việc đi đến đó, và đã lên đường vào tháng 11 năm 1985. 
 
    “Theo ý kiến cá nhân tôi, mọi chuyện đang xảy ra tại Mễ Du đều xác thực. Thật sự là có một điều gì siêu nhiên đang diễn ra tại đó. 
 
    “Mục đích của những lần viếng thăm của Đức Trinh Nữ Maria là để nói với mấy thị nhân mười sứ điệp (hay bí mật) cho thế giới. Người cũng bảo các em rằng: cần phải cầu nguyện, ăn chay và hòa giải với Thiên Chúa. Sau khi việc hiện ra chấm dứt, mười sứ điệp hay biến cố sẽ bắt đầu xảy ra. Cái thứ bảy, chín và mười là những trừng phạt nặng cho thế giới vì tội lỗi. Tôi xin nói thêm là sứ điệp (hay bí mật) thứ bảy đã được bỏ qua, bởi vì dân chúng đã đáp ứng lời kêu gọi khẩn cấp của Đức Trinh Nữ Diễm Phúc về việc cầu nguyện, ăn chay và hòa giải. Người nói là các biến cố trong hai sứ điệp chín và mười sẽ xảy ra, nhưng chúng sẽ được giảm nhẹ, nếu loài người tăng gia cầu nguyện và ăn chay hãm mình. Tôi nghĩ tất cả vấn đề là như thế. 
 
    “Tôi thực sự không coi chuyện đó có ý làm chúng ta sợ hãi, bởi vì sứ điệp của Người không là điều chi khác hơn những gì Phúc Âm đã truyền, mà chúng ta đọc hằng ngày, hằng tuần. Thiên Chúa đang dùng Đức Thánh Mẫu, như một phương thế để nhấn mạnh hơn và khẩn thiết hơn các lời giáo huấn của Ngài. 
 
    “Mễ Du quả thật là một chuyện có một không hai xảy ra tại một ngôi làng nhỏ bé - ngày nay trở nên một thánh địa. Thật khó diễn tả, phải thành thật nhìn nhận như vậy. Sứ điệp mà chúng tôi muốn được biết ấy là: Đây chính là công việc của Chúa Thánh Linh để, đem Tin Mừng Đức Giêsu Kitô đến cho thế giới, qua trung gian Đức Trinh Nữ Maria. Loài người đã quá xa lìa Thiên Chúa và đây là lời kêu gọi khẩn cấp hãy trở lại với Người. Tựu trung, điều Người muốn nói là loài người cần phải sống bình an với nhau, mà bình an ấy chỉ đến nhờ cầu nguyện, hối cải và dĩ nhiên là nhờ thông hiệp. Tôi không cố đem ai vào đạo Công giáo, mà đó cũng không phải là mục đích của sứ điệp Mễ Du. Đó là sự dấn thân riêng tư của mọi người trên thế giới.  

    “Giáo xứ - hay là cộng đoàn - Mễ Du chỉ có 400 gia đình, thế mà Nhà thờ Thánh Giacôbê (nơi được cho là Đức Maria đang hiện ra - chú thích của tác giả) - chứa được khoảng 2000 người hoặc hơn. Không ai biết tại sao Nhà thờ ấy lại được xây lớn đến thế. Đức Maria đang cố gắng dựng lên ở đây khuôn mẫu của một giáo xứ hoàn hảo và Người đã thành công. Chỉ đi khỏi đó 10 cây số thôi, là các bạn rơi lại về “thế giới trần tục thật” rồi. 
 
    “Như tôi đã nói, Đức Trinh Nữ Maria rất vui sướng, vì giáo dân xứ đạo này. Người thường hiện ra khoảng 5g45 chiều (đi trước múi giờ với chúng ta bảy tiếng) và lưu lại độ ba, bốn phút dạo này. Trước đây, các lần hiện ra kéo dài từ 20 đến 30 phút. Khi cuộc hiện ra kết thúc, Thánh Lễ bắt đầu và bọn trẻ ở lại trong Nhà thờ thêm một lúc lâu nữa, như thế, cả thảy mỗi ngày khoảng ba tiếng. Các em cũng dành bốn tiếng mỗi ngày để cầu nguyện và chúng ăn chay ba lần mỗi tuần. Nếu các bạn chưa bao giờ thử ăn chay, các bạn nên làm đi! Chỉ thấy khó chịu ngày đầu thôi. Dân chúng ở đây rất tử tế và dễ mến, hiếu khách và nhiệt tình. Họ thực là những con người đơn sơ, chất phác. 
 
    “Đức Trinh Nữ Maria cũng có những sứ điệp cho phương Tây nữa. Hình như chúng ta cứ tưởng mình khá hơn mọi người khác trên thế giới. Người nói chúng ta sử dụng quá nhiều ma túy và quá nhiều chương trình truyền hình chiếm mất nhiều thời gian của chúng ta. Chúng ta phí phạm rất nhiều thời gian mà lẽ ra phải được dùng vào những việc tốt hơn. Cũng vậy, chúng ta có quá nhiều giáo phái tại Hoa Kỳ, quá nhiều việc sùng bái tà thần. Mặt khác, chúng ta đã tiến bộ xa hơn mọi dân tộc khác trên thế giới về mặt kỹ thuật, và chúng ta cứ tưởng đó là tự chúng ta làm nên - nghĩa là không cần sự trợ giúp của Thiên Chúa. Đó chỉ là kỹ thuật của con người thôi. Nếu các bạn thật tình muốn có một hình ảnh mô tả hoàn hảo về lối sống hiện nay của phương Tây, các bạn chỉ cần cầm quyển Kinh Thánh lên và đọc thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Roma, đoạn 1, câu 18 đến 32.(5bis) Thật đáng kinh ngạc là những điều đã viết từ rất nhiều thế kỷ trước đây, lại tả y hệt như lối sống của chúng ta ngày nay.” 
 

    * * *

    Chứng từ của Cha Sylvester Scotti

 
    “Tháng 10 năm 1984, tôi đi Roma dự cuộc họp các linh mục từ khắp nơi trên thế giới. Ngay trước khi ra về, người ta hỏi chúng tôi xem có muốn đi hành hương hoặc ghé qua Mễ Du, nước Nam Tư, nơi được cho là Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc đang hiện ra với sáu thiếu niên mỗi ngày một lần. 
 
    “Trước kia, tôi có nghe nói loáng thoáng về Mễ Du, qua một tờ báo địa phương. Báo này đưa tin về một linh mục thuộc giáo xứ đó bị bắt và bị cáo về tội quấy rối an ninh trật tự công cộng. Nam Tư là một nước Xã hội Chủ nghĩa, điều ấy ai cũng biết, và họ vẫn cho phép các việc thờ tự được làm trong Nhà thờ, một khi những việc này không xâm phạm đến luật lệ chung ở đó. Bài báo nói linh mục đã bị bắt giữ vì dính dáng đến những điều dối trá, liên quan đến sự kiện siêu nhiên đang xảy ra ở đây. 
 
    “Sau này, qua các linh mục khác và qua sự tìm hiểu của tôi, tôi biết được nhiều hơn về các biến cố diễn ra tại đây. Và dĩ nhiên, tôi rất hào hứng về cơ hội được đích thân đến đó cùng với nhóm linh mục này. Chúng tôi tất cả có 110 người (linh mục) đến Mễ Du sau chuyến đi Roma kỳ trước. Đây là nhóm linh mục đông nhất từ trước đến nay, đến tham quan nơi được coi là có sự kiện hiện ra. Để đến được nơi ấy, chúng tôi phải ngang qua một thành phố tên là Mostar, gần Mễ Du, giả danh các du khách. Không những thế, chúng tôi còn phải mua áo tắm để nhà cầm quyền tin là chúng tôi chỉ muốn thưởng thức các trò giải trí của miền đó. Cuối cùng, chúng tôi đến được một làng nằm giữa Mostar và Mễ Du. Các tiện nghi ở đây thì rất kém, so với nếp sống quen thuộc của chúng tôi, nghĩa là không quá tồi tệ, nhưng rất bán khai so với tiêu chuẩn của ta, chẳng hạn như những ống dẫn ga, dẫn nước đều đặt ở bên ngoài căn nhà, v.v... 
 
    “Sau cùng, nhóm chúng tôi đến Mễ Du, và như tôi đã nói, đây là nhóm linh mục đông nhất từ trước đến nay từng tụ tập cùng lúc ở đây. Chúng tôi được đưa đến tầng hầm của Nhà thờ, vì chúng tôi quá đông, nên gặp các thị nhân sau khi cuộc hiện ra kết thúc. Thời tiết nóng nảy và ngột ngạt. Lại đông người. Lát sau, một nữ tu thuộc giáo xứ, luôn làm việc bênh cạnh các em, bước vào phòng và thông báo là Đức Trinh Nữ đã bảo các thị nhân Người sẽ hiện ra cho các em tại tầng hầm Nhà thờ, nơi chúng tôi đang có mặt, vì Người có một sứ điệp đặc biệt cho chúng tôi. 
 
    “Tôi biết nói gì đây? Chúng tôi hết sức cảm kích vì việc Người sẽ hiện ra với các trẻ tại nơi đây. Liền sau đó, các em đi vào trong phòng và đứng ngay ở phía bên kia cái bàn mà tôi đang đứng với một linh mục bạn, một người bạn thân. Các em bắt đầu đọc kinh và ít phút sau, bỗng chốc, các em quỳ xuống. Đó là dấu cho biết Đức Thánh Mẫu đã hiện ra. Chúng tôi nhìn về chỗ mắt các em đang hướng nhìn vào, đó là ngay phía trên đầu chúng tôi. 
 
    “Khi cuộc hiện ra chấm dứt, các em liền viết điều gì đó lên mảnh giấy và người nữ tu biết nói tiếng Anh phiên dịch cho chúng tôi. Đó là một sứ điệp Đức Trinh Nữ gửi trực tiếp cho chúng tôi: “Cám ơn các con đã đến, đáp lại lời mời gọi của Mẹ. Những ai trong các con yêu mến Mẹ, thì đã được mời gọi cách đặc biệt.” 
 
    “Thế đấy! Các bạn có thể tưởng tượng lúc ấy chúng tôi cảm thấy thế nào không? Tất cả chúng tôi cầu nguyện, rồi leo các bậc cấp lên Nhà thờ để dâng lễ. Tôi không sao tin nổi điều xảy ra sau đó: mấy em thị nhân đến giúp chúng tôi mặc áo lễ vào để đồng tế, tôi và bạn tôi! Ôi! Thật là Hồng Phúc! Rồi, trong Thánh Lễ, các em đứng ngay đó cạnh chúng tôi và chúng tôi cầm tay các em cầu nguyện. Tôi không thể mô tả cho các bạn hiểu điều này có ý nghĩa đối với tôi đến mức nào.  

Hai thị nhân trong một Th.Lễ đồng tế, giữa các linh mục và cộng đoàn. Các em được mời đọc Sách thánh.


     “Tôi phải kể cho các bạn nghe về hai “phép lạ” đã xảy ra trong khi chúng tôi đang ở đấy. Trên xe buýt đi đến Mễ Du, tất cả chúng tôi đều nói chuyện và cầu nguyện về điều đang xảy ra ở đấy. Trời trong sáng, không một bóng mây. Lát sau, có người để ý nhìn trời thấy có hai cụm mây nhỏ xếp thành hình Thập giá. Tôi xin nhắc lại, bầu trời hoàn toàn trong sáng, trừ đám mây hình Thập giá đó. Một chặp sau, hình Thập giá đổi thành hình chim câu hoàn chỉnh. 
 
    “Sau chuyến đi Mễ Du và khi đã trở về phi trường Dubrovnik, chúng tôi dừng lại ở ngôi Nhà thờ xinh đẹp để dâng lễ và cầu nguyện. Tất cả chúng tôi đều ngã bệnh. Tôi muốn nói là bệnh thật, với tất cả những cái khó chịu của cảm, cúm, ho sốt, viêm họng... Chúng tôi cầu nguyện trong Nhà thờ xinh đẹp đó. Khi kinh nguyện vừa xong, chúng tôi đang chuẩn bị ra về, thì một linh mục trẻ người Canada đứng lên nói: “Thưa anh em, tôi phải kể cho anh em nghe điều này: nãy giờ tôi đã cầu nguyện ở đây với anh em và chắc chắn tôi không cầu nguyện cho điều vặt vãnh như khỏi bị cảm cúm... Vậy mà bỗng nhiên, tôi cảm thấy một hơi ấm bao bọc khắp mình tôi, rồi sau đó, cái họng đau rát của tôi, mọi triệu chứng cảm cúm đều biến mất! Tôi hoàn toàn mạnh khoẻ.” Sau đó, chúng tôi tiếp tục cầu nguyện một hồi lâu. 
 
    “Anh hỏi tôi về phản ứng của tôi sau khi trở về Lake City ư? Lẽ tự nhiên, tôi tràn đầy ngạc nhiên ngây ngất về tất cả chuyện đó. Rồi tôi đi đến tất cả các trụ sở báo chí, phát thanh trong vùng và ở Columbia. Kết quả thế nào? Toàn là những cái nhìn thờ ơ, ngoài ra không có gì khác. Nhưng không sao! Bản thân tôi cảm thấy những biến cố xảy ra tại đó (Mễ Du) đều xác thực, và tôi cảm tạ Thiên Chúa về điều ấy.” 
 

    * * *

 
    Đây là phần kết thúc của loạt bốn bài tường thuật về những sự kiện được báo cáo là những cuộc hiện ra của Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc tại Mễ Du, Nam Tư. Tôi không biết nói với các bạn độc giả điều gì khác hơn, là tôi sẽ rất sung sướng được tiếp tục gởi đến các bạn các bản sao của mấy bài báo này, từ những bài đầu, cho bạn nào chưa kịp đọc mà muốn đọc. Chỉ cần gởi bao thư dán tem và ghi sẵn địa chỉ về: Mục Xã luận của Weible, Hộp thư 2647, Myrtle Beach, bang South Carolina, 29578. 
 

    * * *

 
    Như vậy đấy! Tôi vừa nghĩ vừa gõ vào máy chữ mã số bưu điện một cách bay bướm. Tôi đã thực hiện công việc được giao và đã làm xong. Giờ đây, tôi sẽ tiếp tục sống sứ điệp một cách tốt nhất như tôi có thể, nhưng phần chính của công việc thì tôi đã hoàn thành... hoặc tôi tưởng như thế.

---o0o---