BBT trang nhà Khơi-Nguồn

xin kính chúc quý đọc giả

một mùa Giáng Sinh An Lành

trong Chúa Hài Đồng Giêsu

một Năm Mới An Khang Thịnh Vượng

Bà Là Ai?

BÀ LÀ AI ?

CHỨNG TỪ TRUNG THỰC VÀ ĐẦY XÚC ĐỘNG
CỦA MỘT KÝ GIẢ TIN LÀNH VỀ ĐỨC MẸ

Chuyển ngữ từ cuốn “MEDJUGORJE, THE MESSAGE” của Wayne Weible
Paraclete Press, Orleans, Massachussets, 22nd Printing, 1996.

[BBTMạng lưới Khơi Nguồn (Khoi-Nguon.com) xin chân thành cám ơn Linh mục Phêrô Hoàng Minh Tuấn, CSsR đã dịch ra tiếng Việt và cho phép chúng con được đăng lên mạng cho mọi người được hưởng ân huệ của Chúa. Xin Chúa trả công bội hậu cho cha.


“Hãy tích cực sống và loan truyền sứ điệp...”

Chương 10

HÃY ĐẾN MÀ XEM 

    Tôi phải đi Mễ Du - và đi sớm. Không phải để chứng minh việc hiện ra ở đó là có thực. Bài báo cuối cùng tôi viết đã công khai cho biết ý tưởng của tôi nhìn nhận như thế. Tôi muốn đi để tự mình cảm nghiệm sự thiêng liêng của nơi ấy. Việc chuyển giao quyền sở hữu của mấy tờ báo sẽ kết thúc vào đầu tháng tư; tôi sẽ đi ngay sau đó, càng sớm càng tốt. 
 
    Bài báo cuối cùng cũng đã giải phóng tôi khỏi nô lệ vào ham muốn được người khác nghĩ tốt về mình. Tôi không còn bận tâm đến uy tín nhà báo nữa. Trong tôi hiện nay đã chớm nở một sự hiểu biết sơ đẳng về điều mà Đức Trinh Nữ Maria đề cập đến, khi Người kêu gọi mọi người hãy ăn năn trở lại tận đáy lòng. Và, chẳng cần phải nói đâu xa, việc Người yêu cầu tôi cộng tác tích cực vào việc loan truyền sứ điệp Mễ Du không bao giờ xa rời tâm trí tôi. 
 
    Trong khi đó, những tin tức sốt dẻo về Mễ Du cứ tiếp tục đến, do vậy, tôi thấy cần viết thêm một bài báo nữa để bắt kịp tình hình, trước khi tôi lên chương trình cho chuyến đi.
    “Cái này coi bộ dễ làm đây”, tôi nghĩ thế, khi đánh vào máy cái tựa đề và ngày tháng... Tôi khởi sự bằng cách thuật lại nguồn gốc câu chuyện, rồi tiếp tục như sau:

    Ngày 5-3-1986 
    Tin tức mới nhất về biến cố Mễ Du

     Con số tổng cộng của hiện tượng được báo cáo là hiện ra, tính đến nay đã gần 2.000 lần! Chưa bao giờ trong lịch sử, những cuộc hiện ra của Đức Maria lại có một tình trạng như vậy. Vào giai đoạn đầu của sự kiện này, vị Khách Thiên Đình có hứa tiết lộ mười bí mật, hoặc sứ điệp, cho mỗi em trong sáu thiếu niên... Các thị nhân nói là chỉ có bốn bí mật có liên hệ chung đến tất cả nhân loại, mấy bí mật khác liên hệ đến cá nhân mỗi em, hoặc đến cộng đoàn giáo xứ Mễ Du. 
 
    ... Sứ điệp chính của Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc đã được giải thích rõ ràng. Qua những lần hiện ra, Đức Maria đã lặp đi lặp lại về sự phải quay trở về với Thiên Chúa, ăn năn thống hối, tăng cường lòng tin, chay tịnh, cầu nguyện, hòa giải với tha nhân và bình an cá nhân - mà chỉ có những người đã khám phá ra ý nghĩa đích thực của mối tương quan đích thân với Thiên Chúa mới biết được mà thôi. 
 
    Những độc giả thường xuyên của báo chúng tôi (The News & Shopper) đã có dịp đọc loạt bốn bài báo về sự kiện ở Mễ Du, phát hành từ tháng 12 đến đầu tháng giêng. Bài báo dưới đây nhằm cập nhật những thông tin về tình hình của sáu thiếu niên trực tiếp liên can đến những cuộc hiện ra. 
 
    Hiện giờ, chỉ còn bốn thị nhân tiếp tục được Đức Maria hiện ra hằng ngày ở bất cứ nơi nào họ có mặt. Đó là Vicka, Marija, Ivan và Jacov. Hai em khác, Mirjana và Ivanka, đã không còn thấy Đức Trinh Nữ Maria hằng ngày nữa. Hai em đã lãnh xong mười bí mật: Mirjana nhận vào ngày lễ Giáng Sinh 1982, và Ivanka ngày 6-5-1985. Từ đó, hai em không còn được thấy Người hằng ngày nữa. Đức Trinh Nữ Maria hứa với Ivanka là Bà sẽ đến thăm em vào ngày kỷ niệm lần hiện ra đầu tiên (25-6); còn với Mirjana, Người hứa sẽ hiện ra với em vào ngày sinh nhật của em (18-3), bao lâu em còn sống, cũng như trong những lúc khó khăn của đời em. Trong một lần phỏng vấn, người ta hỏi Mirjana tại sao Đức Maria hứa hiện ra và giúp em trong những lúc em gặp gian nan, mà lại không đến cứu giúp chúng tôi như vậy trong những lúc khó khăn của chúng tôi? Mirjana đáp: “Tôi không nói về những khó khăn thường tình của cuộc sống riêng của tôi. Những lúc khó khăn của tôi phát sinh từ những bí mật có liên can đến tương lai thế giới, mà Đức Mẹ tiết lộ cho tôi. Lắm lúc, tôi thấy mình không chịu nổi khi nghĩ về những bí mật ấy. Những lúc đó, Đức Mẹ hiện ra ban cho tôi sức mạnh và lòng can đảm để tiếp tục sống.” 
 
    Cả hai em Mirjana và Ivanka nhận từ nơi Đức Trinh Nữ Diễm Phúc một miếng vải trông giống như giấy, nhưng không phải giấy - một thứ vải mà không phải vải. Trên mảnh vải ấy có ghi tất cả mười bí mật, với ngày, tháng, cả giờ, phút nữa. Chính mỗi em trong hai em này mới đọc được những bí mật được giao cho riêng mình. 
 
    Tấm giấy, hoặc vải, hoặc gọi là vật gì đi nữa, không thể bị phá hủy bởi lửa. Đức Maria bảo mỗi em trong hai thị nhân này chọn một linh mục, để gởi cho ngài tấm giấy/vải có ghi mười bí mật đó mười ngày trước khi chúng xảy ra. Về phần linh mục ấy, nhờ sự trợ giúp của Đức Maria, sẽ đọc được sứ điệp của mỗi bí mật và sẽ công bố ba ngày trước khi nó xảy ra. Ông sẽ mô tả đầy đủ tính chất, thời gian, chi tiết đến từng giờ phút và nơi xảy ra của bí mật ấy. 
 
    Linh mục sau đó sẽ trả lại vật ấy cho thị nhân đã trao nó cho ông. Ông sẽ không đọc được tất cả mười bí mật cùng một lúc, mà chỉ đọc được từng bí mật một, lúc cần công bố nó ra. Mirjana đã tiết lộ tên của linh mục mà em đã chọn. Theo Mirjana, Đức Mẹ rất hài lòng việc em lựa chọn linh mục đó, vốn là - theo ý Người - một linh mục tốt. 
 
Cha Petar Ljubicic (trái), vị linh mục được cô Mirjana chọn để tiết lộ 10 bí mật, đang làm chứng ở một buổi hội nghị.
    Mirjana kể lại một chuyện liên can đến việc lựa chọn linh mục này: “Khi tôi phải chọn một linh mục để công bố các bí mật, tôi đưa tên vị linh mục ấy cho cha Tomislav Vlasic, dòng Phan Sinh (lúc đó là Linh hướng của các thị nhân). Khi nghe tôi nêu tên của linh mục mà tôi chọn, cha Tomislav Vlasic nói: “Ngài ở xa Mễ Du, con nên chọn cha nào khác đang ở gần đây.” Tôi trả lời: “Đức Mẹ sẽ lo chuyện đó.” 
 
    Ít lâu sau, chính xác là vào tháng 8 năm 1984, Đức Giám mục Zanic thuyên chuyển cha Vlasic khỏi Mễ Du đi nơi khác, và thay thế bằng linh mục mà Mirjana đã chọn để công bố các bí mật được giao phó cho em. Điều trớ trêu ở đây là Đức Giám Mục Zanic không tin vào chuyện hiện ra, và đã làm đủ cách có thể để ngăn cản vụ việc này. 
 
    Sự kiện Mirjana đã chọn xong linh mục để công bố các bí mật là dấu cho thấy thời gian dành cho bí mật thứ nhất xảy ra đang đến gần. Những bí mật khác, với khoảng cách thời gian rất ngắn, sẽ xảy ra tiếp theo. 
 
    Vicka, thị nhân lớn tuổi nhất, mới nhận được tám bí mật thôi. Cô đã ghi chép xong về cuộc đời của Đức Trinh Nữ trên trần gian - Đức Maria đã đọc cho cô chép. Từ hai năm qua, cô phải chịu đựng những cơn đau đầu dữ dội, gây ra bởi một bướu nước nằm giữa đại não và tiểu não. Các bác sĩ ở thủ đô Zagreb, nước Croatia, không muốn giải phẫu, vì vị trí cục bướu quá tế nhị. Cô đau đớn lắm, nhất là vào buổi chiều cô thường bị hôn mê. Tuy vậy, trước giờ Đức Maria hiện ra hằng ngày tại căn phòng nhỏ bé, đơn sơ của cô, cô lại tỉnh táo như thường. Các bạn của Vicka và các bạn của Mễ Du đã đề nghị hỗ trợ mọi kinh phí cho việc di chuyển, thuốc men, viện phí, nếu cô muốn đến Hoa Kỳ, Luân Đôn hay Thụy Sĩ để giải phẫu. Khi người ta ra sức thuyết phục cô, câu trả lời đơn sơ của cô là: không. Được hỏi tại sao, cô nói: “Đức Mẹ nói với tôi là Thiên Chúa gởi đến cho tôi chứng bệnh này với một mục đích đặc biệt, và tôi đã chấp nhận!” Có người lại hỏi: “Có bao giờ Đức Mẹ nói sẽ chữa lành cho cô không?” - “Không, và tôi cũng không xin Người chữa cho tôi!” 
 
    Thiếu nữ đang tuổi xuân xanh tươi trẻ này sinh trưởng trong một gia đình nghèo, nhưng đã từ chối những điều kiện chữa trị đế vương người ta đề nghị với cô, chỉ vì những động lực siêu nhiên. Thử hỏi ai còn có thể kết án cô là dối trá, gian lận hoặc lừa bịp? 
 
Thị nhân Vicka xuất thần trong một buổi diện kiến Đức Maria.
    Đời sống của Vicka tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa. Thần Khí ấy rạng rỡ trên khuôn mặt cô, ngay cả những lúc cô bị hành hạ vì cơn đau. 
 
    Marija, thị nhân đã nhận xong chín bí mật, và còn đang nhận những sứ điệp dành cho giáo xứ Mễ Du mỗi ngày thứ năm, luôn gây một ấn tượng thánh thiện nơi người được gặp cô. 
 
    Ivan đã xin vào đến hai chủng viện, nhưng vì nhiều lý do nên không thành công, nay vẫn hi vọng trở thành linh mục trong tương lai. 
 
    Jakov, người trẻ nhất, đang trưởng thành về thể chất lẫn tinh thần, nhưng vẫn rất hiếu động. Trong những buổi phỏng vấn, cậu cố trả lời nhanh để còn có thời giờ đi chơi. Nhưng khi được hỏi một câu nghiêm túc, lập tức cậu trở thành một thiếu niên suy tư và đưa ra những câu trả lời chững chạc. 
 
    Tất cả sáu thị nhân đều hoàn toàn ý thức rằng các em bị hiểu lầm, chỉ trích, ngay cả bị kết án bởi những người lẽ ra phải “tôn trọng và bảo vệ các em” - như nhà thần học lừng danh Hans Urs von Balthazar đã nói. 
 
    Các em cũng tin chắc rằng mình được Đức Trinh Nữ Maria hiện đến, và sử dụng như những dụng cụ để truyền đạt sứ điệp thiên đàng cho nhân loại. 
 
    * * *
 
    “Cập nhật thông tin như vậy được rồi”, tôi vừa nghĩ vừa kéo trang giấy cuối cùng ra khỏi máy chữ. Và bây giờ, tôi tập trung vào việc chuẩn bị cho chuyến đi. 
 
    Qua Jim Stoffel, tôi liên lạc được với nhóm “Trung Tâm Hòa Bình” ở Boston, mà mục tiêu duy nhất là loan truyền sứ điệp Mễ Du, bằng cách phân phát sách báo, ấn phẩm, và tổ chức hành hương. Jim đã đi với họ trong chuyến đầu tiên của anh vào tháng 11. Khi tôi biết là họ có một chuyến khác ấn định vào ngày 30 tháng 4, khởi hành từ Nữu Ước, tôi liền đăng ký ngay. Vì con cái còn quá nhỏ, không thể bỏ ở nhà lâu, nên Terri phải ở nhà, và chính nàng cũng muốn như vậy. Nhưng khi ngày lên đường càng đến gần, nàng càng tỏ vẻ không mấy phấn khởi về chuyến đi của tôi. 
 
    Một người khác cũng tỏ ra ít khích lệ tôi, đó là mục sư Bill Wingard của tôi. Chúng tôi đã nhiều lần thảo luận sôi nổi riêng trong văn phòng của ông, luôn luôn xoay quanh sự lo lắng của ông. Ông lo rằng trong sự hăng hái của tôi đối với Bà Maria, tôi đang đánh mất cái nhìn vào trung tâm điểm là Chúa Giêsu Kitô. Ông cứ kêu lên: “Tất cả những gì tôi nghe từ miệng anh chỉ là Maria!” 
 
    - “Vậy thì thật ra anh không nghe gì hết, vì tôi cứ kêu Giêsu mà anh lại cứ nghe ra Maria.” tôi biện hộ. “Coi kìa Bill, Bà chỉ đang dẫn đường cho tôi đến với Chúa Giêsu thôi!” 
 
    Nhưng những cuộc thảo luận luôn luôn dẫn đến tranh cãi về thần học. Ông chỉ trích mấy bài báo của tôi và những sách tôi cho ông ấy mượn đều sai giáo lý Tin Lành Lutêrô. Càng ngày tôi càng thất vọng và buồn, vì từ lâu, chúng tôi chơi thân với nhau. 
 
    Dần dần, tôi ý thức được là những người khác trong Giáo hội của tôi chỉ còn biết “mong đợi chàng Wayne vượt qua được chuyện này”, và khi họ thấy là tôi không có vẻ vượt qua được, thì công tác dạy trường Chúa nhật của tôi bị xen kẽ với phiên người khác; cuối cùng, tôi chẳng còn được dạy lớp nào nữa. 
 
    Điều mà tôi không ý thức được, đó là tác động của tất cả những việc này trên tôi. Khi làm gần xong thủ tục bán lại những tờ báo, và khi thấy nhà xuất bản của mình vẫn lãnh việc in ấn mấy tờ báo đó, nhờ đó thu nhập (của tôi) vẫn ổn định; tôi bắt đầu nghĩ về tương lai. Một lần nữa, tôi quên bẵng cái phần trong sứ điệp của Đức Maria nói (cho tôi) về việc tôi sẽ không còn ở trong ngành báo chí nữa. Thực tế, là khi dàn xếp với các người chủ mới của mấy tờ báo, tôi vẫn được tiếp tục phụ trách mục của tôi, và thậm chí còn được lãnh một món tiền nhuận bút tượng trưng nhờ đó. Muốn cho việc tôi tiếp tục viết bài xã luận có đủ lý do thì cũng dễ thôi: sau chuyến đi từ Mễ Du về, hiển nhiên là sẽ có nhiều bài báo nữa cần được viết về Mễ Du. Còn trong lúc này, tôi mở lại hai mục như đã có trước đây, chỉ đề cập đến những vấn đề thường ngày của địa phương. 
 
    Những toan tính của tôi về tương lai càng lúc càng xoay quanh khả năng cộng tác với một cựu nhân viên của báo chúng tôi, hiện đang làm chủ một công ty quảng cáo. Nhờ có kinh nghiệm làm việc bao quát trong lãnh vực này, tôi sẽ làm tư vấn quảng cáo độc lập. 
 
    Đó là đôi nét nổi bật trong suy nghĩ của tôi vào một buổi sáng tháng tư, khi tôi ngồi trong văn phòng, trên chiếc ghế ngả ra phía sau và đầu óc hướng về phía trước khoảng sáu tháng. Bất chợt tôi cảm thấy, một lần nữa, thông điệp mạnh mẽ, rõ rệt từ Đức Maria nổi lên trong lòng: “Nếu con không muốn làm việc (Mẹ trao cho con) đó, một người khác sẽ làm.” Tôi ngồi bật dậy như muốn rớt ra khỏi ghế. Tim đập thình thịch, tôi nhảy lên, kêu lớn: “Có, con muốn làm việc đó!” 
 
    Cảm thấy mình có vẻ hơi khùng, tôi phân vân không biết mình có tưởng tượng quá trớn hay không. Nhưng tôi đã mau lẹ xua đuổi ý nghĩ đó, vì tôi biết nguồn gốc và ý nghĩa của lời khiển trách ấy, mặc dù nó có đến với tôi một cách nhẹ nhàng mấy chăng nữa. Từ lúc đó trở đi, tôi không còn để tâm nghĩ đến chuyện làm công việc quảng cáo nữa, mà chỉ tập trung vào việc chuẩn bị cho chuyến đi Mễ Du. 
 
    Năm ngày trước khi tôi khởi hành, những hàng tít lớn trên các báo om xòm lên về vụ rò rỉ lò phản ứng hạt nhân của Nga ở Chernobyl. Một cột mây phóng xạ khổng lồ đã bị phóng thích và đang bay qua miền Nam Âu châu và Nam Tư. Thêm vào đó, một đợt khủng bố mới nhắm vào người Mỹ ở châu Âu và Munich vừa nổ ra. Munich, nơi chúng tôi phải ghé để đổi máy bay, chính là một trong những điểm nguy hiểm nhất. 
 
    - “Nói thật, em thấy chẳng có lúc nào tệ hơn lúc này để anh đi!” Terri phản đối tôi, khi ngồi sau bàn làm việc của nàng. Vợ tôi quả là một người hợp tác làm ăn rất có giá mà tôi có thể cầu mong được. Mỗi lần tôi bị lạc hướng hoặc trật đường, nàng thường lôi tôi về rất nhanh bằng một vài lý lẽ thực tế đập mạnh vào mắt. Sự thật thường làm đau “cái tôi” và lòng kiêu hãnh của tôi, nhưng nàng vẫn thường có lý. 
 
    Hôm nay, nỗi lo của nàng không phải là về công việc. “Đám mây (phóng xạ) đang tràn đến miền ấy, thế mà anh lại đâm đầu vào nó! Như vậy đúng là ngu ngốc!” Nàng ngừng lại, nhưng tôi không nói gì. “Và đó lại là một nước Xã hội chủ nghĩa; làm sao anh biết được những gì họ có thể làm?” Tôi cắn môi. “Em thấy anh chẳng đúng chút nào, khi đi ngay vào lúc mấy tờ báo phải chuyển qua một cách điều hành mới, mà nhất là sau khi anh đã chấp thuận ở lại làm cố vấn cho họ trong hai tháng nữa.” 
 
    Tôi không cho nàng biết rằng việc chuyển giao đang diễn tiến trơn tru, và rằng tôi đã thỏa thuận đầy đủ với các người chủ mới của tờ báo cho tôi đi vắng chín ngày. Tôi giữ im lặng, biết rằng Terri cần xả ra hết những lời đó, dù nàng vẫn biết là chúng sẽ không làm tôi đổi ý được. 
 
    Ngày 30 đến, nàng lái xe đưa tôi ra phi trường. Tôi cười, nói khi chúng tôi chia tay: “Em đừng lo, anh sẽ không trở về như bóng ma lập loè trong bóng tối đâu! Và anh cũng sẽ không chết rũ trong một nhà tù nào đó ở bên ấy! Anh sẽ về đến nhà trước cả cái bưu thiếp của anh. Chắc chắn mà!” 
 
    Nàng cố tạo nụ cười can đảm nhất của nàng khi tôi quay đi và vẫy tay, nhưng nàng chẳng dối được ai, cả tôi lẫn nàng. 
 
    * * *
 
    Tại phi trường Kennedy, tôi đi đến phòng đợi chỉ định cho nhóm chúng tôi. Cái thẻ ghi tên gắn trên áo của một phụ nữ có nụ cười rất rộng đang ngồi sau bàn đăng ký cho biết cô là Rose Finnegan, từ Boston. Khi tôi tự giới thiệu, cô ta liền đứng dậy, ôm chặt tôi, la lên: “Chúa chúc lành cho anh, Wayne! Anh là người bạn Tin Lành Lutêrô cùng đi với chúng tôi!” 
 
    Nhiều cái đầu quay lại để nhìn anh chàng Tin Lành dớ dẩn này. Gắn xong cái thẻ tên lên áo tôi, cô lùi lại ngắm nghía công trình của mình. Tôi giữ nụ cười vô hồn trên mặt. Như một nguyên tắc, tôi rất ghét mấy cái thẻ gắn tên và, nếu có thể vứt được, không bao giờ đeo nó trong lúc làm nhiệm vụ. Nhưng cái này thì tôi sẽ phải đeo trong tám ngày nữa. 
 
    Tôi mang theo nhiều sách về Mễ Du. Chọn một chỗ ngồi cách xa những người khác, tôi chuẩn bị vùi đầu vào một quyển. Nhưng khi rút sách ra khỏi cái túi du lịch mà họ mới cho, mắt tôi chạm vào cái tên trên túi. Tôi cố nhớ lại điều Jim Stoffel đã kể với tôi về Trung Tâm Hòa Bình. 
 
    Trung Tâm này bắt đầu với John Hill, một doanh nhân cực kỳ thành công ở Concord, bang Massachusetts. Bất cứ cái gì ông thực hiện đều hái ra tiền, nhờ đã trưởng thành từ cái trường đời khốc liệt mà ông lăn lộn từ tấm bé. Hiện nay, ông làm việc như một loại thầu khoán, đảm nhiệm nhiều thứ cùng một lúc, kể cả làm chủ cái xưởng tái chế đèn đường kiểu cổ và ghế dài bằng sắt uốn. 
 
    John có tính độc lập mạnh mẽ. Một người bạn lâu năm tặng ông một băng vidéo về Mễ Du, khi xem xong, ông khẳng định đấy là một sứ điệp hòa bình cho thế giới. Có điều gì đó trong quá khứ bừng dậy trong ông, đánh động ông một cách sâu xa hơn bất cứ điều gì trong nhiều năm. Là một người mang danh Công giáo, nhưng ông đã không đi Nhà thờ từ khi còn nhỏ, chỉ trừ những dịp lễ cưới hay lễ tang; giờ đây, ông đã tìm đến một Nhà thờ và bắt đầu cầu nguyện.
Ivan,Vicka, Ivanka, Marija : họ không khác gì týp thiếu niên choai choai cùng tuổi…

 
    Tôi mỉm cười khi nhớ lại chuyện của ông ta, vốn không khác gì mấy với chuyện của tôi. Hình như Đức Maria đang muốn tuyển mộ một đợt tông đồ độcđáo, “chẳng giống ai”. Tôi lại mỉm cười. Có lần các thị nhân hỏi Người sao lại chọn các em, (các em có tốt gì hơn các bạn trẻ khác đâu) Người cười và đáp: “Mẹ không luôn chọn những người tốt nhất.” 
 
    Tin là Chúa đã nói, John và một người bạn bắt đầu Trung Tâm Hòa Bình, lập văn phòng trong xưởng đèn măng-sông và thu hút những người tình nguyện. Theo một nghĩa nào đó, họ chính là những người tiên phong, tổ chức chu đáo những chuyến đi và các tiện nghi, tại một xứ sở còn hoàn toàn nằm ngoài lịch trình đường bay quốc tế. 
 
    Đến nay, dĩ nhiên, một tập quán làm việc tốt đẹp đã thành hình, nhưng vào lúc đầu, họ thật là những người mở đường. Điều trớ trêu là chính John vẫn chưa đặt chân đến Mễ Du. Ông ta tin công việc của mình là ở nhà, để làm cho những người khác đi tới đó. Tôi mong đến ngày được gặp người đàn ông này, người đã làm được rất nhiều cho việc truyền bá sứ điệp, nhưng lại không có ý muốn đích thân đến đó. 
 
    Họ thông báo đến giờ bay, tôi đứng dậy đi vào hàng. Ai nấy đều xôn xao, chúng tôi sắp lao vào một cuộc phiêu lưu để đời. Đoàn chúng tôi có tất cả 70 người, gồm đủ nam nữ, già trẻ. 
 
    Trên máy bay, tôi ngồi cạnh một phụ nữ trẻ có tên Maureen Thompson, từ Philadelphia. Cô rất cởi mở, thân tình, nên chẳng mấy chốc, chúng tôi trao đổi với nhau những câu chuyện đã đưa chúng tôi đến với sự kiện Mễ Du. 
 
    Tôi mau chóng phát hiện rằng mọi người trong chuyến đi này đều có một câu chuyện độc đáo giải thích lý do khiến họ có mặt ở đây. Dần dà, tôi biết được đó là một nét chung của bất cứ cuộc hành hương nào. 
 
    Trước khi lên máy bay, tôi đã để ý đến Maureen. Vì lý do nào đó, tôi nghĩ cô ấy là một nữ tu. Trang phục của cô trông như là đồng phục, và vì thời nay, một số dòng tu chấp nhận lối ăn mặc tân thời, nên tôi cho đó là lý do cô không mặc áo dòng. Hóa ra cô ấy đang học năm cuối để thành y tá. Cô nghe nói về Mễ Du và khao khát được đến đó, mặc dù có những khó khăn về tài chánh. Cha cô, một nhân viên cảnh sát có năm con, phải cật lực làm việc để nuôi chúng ăn học... 
 
    Dẫu vậy, Maureen cứ viết cho Trung Tâm Hòa Bình xin thông tin để tham khảo sau này. Cô đã từng cầu nguyện, than thở với Chúa là cô muốn đi lắm, nhưng khi biết chuyến đi tốn khoảng 1.300 đô, cô kể như xong rồi, chỉ là một giấc mơ đẹp... 
 
    Thế rồi, có một lá thư đến từ trường đại học, nơi cô sắp lãnh bằng cử nhân ngành điều dưỡng. Cô chết lặng khi biết mình đã trả dư học phí suốt bốn năm qua, và bây giờ họ hoàn tiền lại cho cô với tấm ngân phiếu hơn 500 đô! Cũng trong tuần đó, cô nghe tin từ cơ quan IRS (quan thuế ?) : cô đã tính lầm tiền thuế lợi tức thu nhập của năm trước, nên họ trả lại cho cô hơn 500 đô! Khi cô kể cho cha mẹ về hai của trời cho phi thường này, họ liền bù thêm một ít nữa cho đủ số tiền để cô đi. 
 
    - “Mà ngay cả như vậy, tôi vẫn không thể có mặt đây bây giờ, vì còn phải thi cuối năm vào tuần này.” cô cười, “Nhưng khi thấy tiền đã đến với tôi như thế, tôi nhận ra là chính Rất Thánh Đức Mẹ đang gọi tôi đến Mễ Du. Cho nên tôi làm đơn xin phép đặc biệt để thi kỳ kế tiếp khi trở về, và đơn của tôi lại được chấp thuận!” 
 
    Đó là câu chuyện đáng ngạc nhiên - và đó cũng là lần đầu tiên tôi nghe người ta gọi Đức Trinh Nữ Maria là “Rất Thánh Đức Mẹ”. Thực ra, đây là lần đầu tiên tôi thực sự tiếp xúc với một người rất là “Công giáo”. Ngay lúc đó và nơi đó, Maureen Thompson thành “cầu nối Công giáo” của tôi trong suốt chuyến hành hương. Tôi lấy làm ngạc nhiên khi sau này, cô bộc lộ cho tôi biết chính cô cũng đã có những trăn trở, ray rứt về lòng tin. 
 
    Rồi tôi kể cho cô ấy nghe câu chuyện của tôi - chừa ra sứ điệp của Đức Maria. Cả hai chúng tôi đều phấn khích trước câu chuyện của nhau, thực tế là cả hai đã hăng hái đến nỗi quên cả ngủ mà nói chuyện suốt chín tiếng đồng hồ - về sau, tôi thấy điều này cũng khá phổ biến trong những chuyến đi Mễ Du. Trong thời gian chín tiếng này, có lúc tôi đã nói với cô: “Này Maureen, điều này nghe hơi quái đản, nhưng chúng ta sẽ là bạn bè của nhau đến suốt đời.” 
 
    Cô nhìn tôi mỉm cười, đáp: “Vâng, tôi biết.” Có người ngồi mấy hàng ghế trước chúng tôi kéo màn cửa sổ lên, và tôi ngạc nhiên khi thấy mặt trời đã lên cao khi máy bay chuẩn bị hạ cánh. 
 
    ---o0o---